Thực trạng đối thoại xã hội tại nơi làm việc. Những giải pháp và kiến nghị để đẩy mạnh, nâng cao chất lượng đối thoại.
03/01/2018

Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước được tổ chức thực hiện cách đây 19 năm (năm 1998) và đã được "Luật hóa" tại Khoản 4, Điều 10 Luật Cán bộ Công chức 2008; tại Khoản 2, Điều 18 Luật Viên chức 2010 và tại Điều 63, 64, 65 Bộ luật Lao động 2012. Theo đó, khẳng định tầm quan trọng, sự cần thiết và vai trò trách nhiệm của Công đoàn trong việc tham gia xây dựng và thực hiện QCDCCS. Riêng việc thực hiện đối thoại định kỳ tại nơi làm việc 3 tháng/lần (kể cả tổ chức hội nghị người lao động (HN.NLĐ) hằng năm) được áp dụng bắt buộc đối với các DN và phải xây dựng Quy chế đối thoại tại nơi làm việc; khuyến khích các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập có thể vận dụng tổ chức đối thoại định kỳ hoặc đột xuất.

Trong những năm qua, việc triển khai thực hiện QCDCCS trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã trở thành nề nếp, có những chuyển biến rõ nét; Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Ninh (LĐLĐ tỉnh) luôn coi trọng công tác chỉ đạo, hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục trong công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ) về thực hiện QCDCCS trong doanh nghiệp (DN). 5 năm gần đây, mỗi năm LĐLĐ tỉnh đều đã tổ chức tập huấn từ 04 – 06 lớp, cho hàng trăm cán bộ CĐCS, cấp trên cơ sở và cả người sử dụng lao động (NSDLĐ) về kỹ năng tổ chức thực hiện QCDCCS và thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể. Năm 2017 đã có 86,6% DN có tổ chức công đoàn cơ sở (CĐCS) trên địa bàn do LĐLĐ tỉnh quản lý trực tiếp tổ chức HN.NLĐ. Qua thống kê, đã có 86,6% DN xây dựng QCDCCS; 72,8% DN xây dựng Quy chế tổ chức HN.NLĐ và 65% DN đã xây dựng được quy chế và tổ chức đối thoại định kỳ.

 

Hình ảnh tham gia đối thoại định kỳ hằng tháng tại Công ty TNHH Everbest Việt Nam (tháng 5/2016)

Việc tổ chức đối thoại định kỳ đã từng bước đi vào nề nếp, các thành viên tham gia đối thoại đã tích cực phát huy vai trò cá nhân để tham gia hoạt động, chia sẻ thông tin, tăng cường sự hiểu biết giữa NSDLĐ và người lao động (NLĐ), NLĐ được đóng góp ý kiến để xây dựng môi trường lao động ổn định, vì sự phát triển của DN, dung hòa được quyền và lợi ích, phòng ngừa các bất đồng xảy ra, hạn chế và loại trừ nguy cơ dẫn đến tranh chấp lao động làm phá vỡ quan hệ lao động, gây thiệt hại về quyền, lợi ích cho cả hai bên. Điển hình như Công ty Tuyển than Cửa Ông định kỳ 3 tháng/lần theo pháp luật và đột xuất đã tổ chức hội nghị đối thoại đảm bảo dân chủ, chất lượng, nội dung chuyên sâu như về “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”, “nâng cao chất lượng bữa ăn ca cho NLĐ”; hoặc Công ty TNHH Everbest Việt Nam là doanh nghiệp FDI với 2.200 lao động cũng đã thường xuyên tổ chức đối thoại định kỳ hằng tháng từ 01 giờ đến 02 giờ/buổi trước ngày 15 (ngày thanh toán lương cho NLĐ) với sự tham gia của các ủy viên BCH Công đoàn cơ sở và đại diện 06 tổ, mỗi tổ sản xuất cử 03 người (tổng số có 110 tổ được thay đổi luân phiên các tháng, các năm) về các nội dung NLĐ quan tâm như định mức lao động, chất lượng bữa ăn ca, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động….đây là cách làm mới phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp đã góp phần xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và phát triển tại doanh nghiệp.

 

Đối thoại định kỳ “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”  tại Công ty Tuyển than Cửa Ông – TKV (tháng 6/2017)

Tuy nhiên, mặc dù đã có những kết quả bước đầu khá quan trọng về tổ chức HN.NLĐ và đối thoại định kỳ tại nơi làm việc nhưng vẫn chưa được rộng khắp, còn hình thức, không theo đúng trình tự, nội dung hướng dẫn của pháp luật. Cán bộ CĐCS kiêm nhiệm, chưa dành nhiều thời gian cho công tác công đoàn nên tổ chức thực hiện hiệu quả chưa cao. Tại các cuộc đối thoại định kỳ và HN.NLĐ, ý kiến của đại diện NLĐ mới chỉ tập trung vào giải quyết các quyền lợi cho NLĐ thay vì quan tâm đến các giải pháp tham gia quản lý, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh cho DN; hoặc khi tham gia vào đối thoại, NLĐ vẫn còn nhút nhát, e dè, chưa dám nêu ý kiến vì sợ bị trù dập.

Vẫn còn có DN không xây dựng Quy chế và không bầu các thành viên đại diện tập thể NLĐ tham gia đối thoại, không tổ chức lấy ý kiến và tổng hợp ý kiến NLĐ, đề xuất nội dung đối thoại và xây dựng kế hoạch đối thoại; không phân công trách nhiệm cho từng thành viên tổ đối thoại chuẩn bị ý kiến về nội dung đối thoại, nên khi đối thoại không đủ căn cứ để phân tích, giải trình, phản biện nội dung đối thoại. Có DN thì tập hợp đến 300 NLĐ của công ty để đối thoại định kỳ, không có nội dung chuẩn bị từ trước, nên phần nhiều các ý kiến tham gia của NLĐ mang tính chất đơn lẻ, tản mạn, không tập trung những vấn đề lớn, thậm chí đưa ra ý kiến trở thành phê phán chủ DN hoặc khi NLĐ có ý kiến trao đổi, đề xuất thì NSDLĐ tỏ thái độ phủ nhận, đưa đến kết quả đối thoại không đạt yêu cầu, làm cho đối thoại tại DN gặp nhiều khó khăn, gây tốn kém cho DN và thậm chí làm cho NLĐ mất niềm tin.

Việc phát huy cả hệ thống chính trị trong chỉ đạo, đôn đốc, giám sát, kiểm tra, xử phạt vi phạm thực hiện QCDCCS, tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc ở một số địa phương còn hạn chế, chưa nghiêm, còn giao khoán cho Công đoàn thực hiện.

Có thể nói, nếu không phát huy được quyền làm chủ của NLĐ, môi trường dân chủ tại cơ sở, thì hoạt động Công đoàn ở đó coi như không thể hữu hiệu và phát huy cơ chế tốt nhất đã được "Luật hóa" vai trò đại diện của Công đoàn trong quan hệ lao động; NLĐ không thể phấn khởi, tự tin để cống hiến và sáng tạo trong mọi công việc và lĩnh vực hoạt động; mặt khác NLĐ không có chỗ, có nơi để phát biểu tâm tư, nguyện vọng, đưa ra những đề xuất, kiến nghị để bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Nhưng nếu là dân chủ hình thức thì mọi hoạt động của Công đoàn cũng chỉ là thụ động, ăn theo, mà không bảo vệ được quyền lợi của NLĐ; quần chúng sẽ hoài nghi và không tin tưởng vào tổ chức đại diện mà mình tham gia.

Để đẩy mạnh, nâng cao chất lượng thực hiện QCDCCS, tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc, tổ chức Công đoàn cần quan tâm một số nội dung sau:

(1). Trước hết, Công đoàn cần lựa chọn bầu các thành viên thông qua tiêu chuẩn các thành viên tham gia đối thoại là rất quan trọng. Thành viên tham gia đối thoại phải hiểu biết pháp luật về lao động và công đoàn, chế độ chính sách đối với NLĐ, các nội qui, qui chế của DN, tình hình sản xuất kinh doanh của DN; đời sống, việc làm của NLĐ và được NLĐ tín nhiệm; có khả năng thuyết trình, thuyết phục hoặc phản biện, tâm huyết thì đối thoại mới hiệu quả. (2). Công đoàn cấp trên cơ sở cần phân công cán bộ trong Ban chấp hành Công đoàn theo dõi, giúp đỡ cơ sở, sẵn sàng đại diện cho tập thể NLĐ (nơi chưa có CĐCS); CĐCS phải chủ động phối hợp với NSDLĐ dự thảo mới hoặc sửa đổi bổ sung QCDCCS, Quy chế đối thoại tại DN, Quy chế tổ chức HN.NLĐ; dự kiến danh sách bầu đại diện NLĐ có đủ tiêu chuẩn tham gia đối thoại định kỳ tại nơi làm việc. Đây là tiền đề quan trọng để duy trì và thực hiện có hiệu quả việc đối thoại tại nơi làm việc. (3). NSDLĐ phải thực hiện đúng quy định của pháp luật và thật sự dân chủ; cán bộ công đoàn phải tổ chức tốt việc lấy ý kiến NLĐ về những nội dung cần đưa ra đối thoại để tổng hợp ý kiến tham gia trước khi đối thoại. Những nội dung mới phát sinh cần trao đổi với NSDLĐ trước khi diễn ra đối thoại. Phân loại, lựa chọn các nội dung đối thoại, phân công trách nhiệm cụ thể cho các thành viên tham gia, tìm hiểu các căn cứ pháp luật, thực tế yêu cầu và điều kiện cụ thể để đối thoại. Kết thúc buổi đối thoại phải có kết luận từng vấn đề cụ thể và thể hiện vào biên bản đối thoại, ghi rõ những nội dung đã thống nhất, biện pháp thực hiện, những nội dung còn có ý kiến khác nhau chưa thống nhất, cần bàn bạc giải quyết tiếp. (4). Hình thức đối thoại tại nơi làm việc phải linh hoạt và tùy thuộc điều kiện cụ thể của mỗi DN, thiết lập và vận hành kết hợp nhiều kênh đối thoại khác nhau. Tùy điều kiện, DN có thể lựa chọn kết hợp các kênh đối thoại phổ biến như: Họp định kỳ 3 tháng/lần, họp trước ca làm việc từ 10 –15 phút, lập hòm thư góp ý, bảng tin, mạng nội bộ, webside, sử dụng tin nhắn điện thoại, bảng biểu dán tại nơi nghỉ giải lao giữa ca…Góp phần giảm chi phí cho DN, đồng thời giúp NLĐ không bị tiết lộ danh tính nếu họ không muốn. Khi có phát sinh vấn đề, nội dung bức xúc, cấp thiết liên quan đến quyền lợi NLĐ cần được giải quyết ngay, CĐCS cần tập hợp nhanh yêu cầu của NLĐ, thông qua tổ công đoàn, công đoàn bộ phận...để thống nhất nội dung đối thoại bằng văn bản gửi NSDLĐ yêu cầu tổ chức đối thoại đột xuất. (5). Đề nghị, hằng năm Chính quyền địa phương cấp tỉnh, cấp huyện cần phối hợp với LĐLĐ đồng cấp tổ chức các cuộc đối thoại, tiếp xúc giữa lãnh đạo chính quyền, chủ DN với NLĐ trên địa bàn để nắm bắt tình hình, tư tưởng, giải quyết những kiến nghị và các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động, tạo đà là cú hích cơ bản để cơ sở thực hiện tốt hơn nữa QCDCCS. Đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm những DN cố tình vi phạm thực hiện QCDCCS. (6). Đề nghị Chính phủ sớm sửa đổi, bổ sung chế tài đủ mạnh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi DN cố tình không tổ chức hội nghị NLĐ (hiện tại mới có chế tài xử phạt về DN không tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc).

Tóm lại, việc duy trì tốt đối thoại xã hội tại nơi làm việc sẽ tác động tích cực đến mọi mặt hoạt động của DN, từ chất lượng sản phẩm, năng suất lao động, giúp NLĐ yên tâm làm việc, gắn bó với DN, là giải pháp tốt nhất nhằm tháo gỡ những xung đột trong quan hệ lao động, tránh những hậu quả về tranh chấp lao động và đình công, đơn thư khiếu kiện trong DN, qua đó nâng cao tinh thần lao động cống hiến của NLĐ, thúc đẩy sản xuất ngày càng phát triển, cùng hợp tác vì lợi ích chung, góp phần xây dựng mối quan hệ hài hòa ổn đinh và phát triển tại DN, phát huy được vai trò của Công đoàn là cơ quan đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ./.

Đỗ Văn Khánh (Phó ban CSPL LĐLĐ tỉnh)