Tổng hợp những ý kiến đề xuất và trả lời của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy tại hội nghị gặp gỡ và đối thoại với CNVC-LĐ, ngày 27-5-2014
28/05/2014

Câu hỏi số 1: Theo định hướng phát triển tỉnh Quảng Ninh sẽ trở thành “Tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, trung tâm du lịch quốc tế; Tỉnh đã có những định hướng trong thu hút nhân tài và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp, thương mại, các ngành dịch vụ, du lịch. Kính đề nghị đồng chí cho biết rõ định hướng và giải pháp đào tạo đội ngũ công nhân chất lượng cao để đáp ứng được yêu cầu phát triển của tỉnh ?

Trả lời:

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII đã xác định tầm quan trọng trong việc “phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ CNH, HĐH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế”. Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Quảng Ninh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm; điều hành linh hoạt, sáng tạo, có nhiều giải pháp tích cực để thực hiện nhiệm vụ, trong đó giải pháp quan trọng, quyết định thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là sớm ban hành một Đề án chính sách mang tính đột phá mạnh mẽ trong việc thu hút và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh.

Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên TW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy phát biểu tại buổi đối thoại.
Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên TW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy phát biểu tại buổi đối thoại.

Dự thảo Đề án đang  xây dựng có các chính sách liên quan đến việc thu hút và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho tất cả các ngành, lĩnh vực của tỉnh, trong đó có công nghiệp, thương mại, các ngành dịch vụ, du lịch. Cụ thể:

(1) Chính sách hỗ trợ người có tài năng, tay nghề cao:

+ Thợ lành nghề được các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của tỉnh mời về làm việc theo hình thức Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ  01 năm trở lên: Ngoài lương theo Hợp đồng thỏa thuận, ngân sách Tỉnh sẽ hỗ trợ thêm mỗi tháng bằng 1,0 tháng lương cơ sở.

+ Học sinh  tốt nghiệp THPT có hộ khẩu Quảng Ninh đạt giải quốc gia, quốc tế được Tỉnh cử đi đào tạo trình độ đại học ở nước ngoài. Sau khi tốt nghiệp về Quảng Ninh công tác sau  được tuyển dụng về các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp hoặc doanh nghiệp thuộc tỉnh có quy mô từ 50 lao động trở lên sẽ được hỗ trợ 01 lần sau đào tạo bằng 100 lần mức lương cơ sở.

(2)  Chính sách hỗ trợ trong đào tạo nghề:

Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, bên cạnh việc củng cố và phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề, Tỉnh có chính sách hỗ trợ giáo viên các cơ sở dạy nghề công lập và ngoài công lập thuộc tỉnh đi học trình độ sau đại học để nâng cao trình độ chuyên môn và phương pháp giảng dạy. Theo đó, giáo viên dạy nghề được cơ quan có thẩm quyền của Tỉnh cử đi đào tạo sẽ được ngân sách Tỉnh hỗ trợ hàng tháng trong thời gian học tập bằng 2,0 lần tháng lương cơ sở.

Ngoài ra, Tỉnh có chủ trương xây dựng các chính sách kết nối giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề để thường xuyên đào tạo, đào tạo lại đội ngũ công nhân, đảm bảo cập nhật, bổ sung kiến thức tạo điều kiện cho công nhân được thường xuyên tiếp cận với trang thiết bị hiện đại trong xử lý công việc.

Câu hỏi số 2: Chúng tôi là công nhân lao động đang làm việc ở một số doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; chúng tôi có nguyện vọng phấn đấu để được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam, song nhiều doanh nghiệp không có tổ chức cơ sở Đảng. Xin Bí thư cho biết Tỉnh ủy có biện pháp gì để phát triển Đảng trong các khu vực kinh tế này?

Trả lời:

Những năm qua, công tác xây dựng tổ chức đảng, các đoàn thể và phát triển đảng viên, trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (gọi tắt là Doanh nghiệp – DN) trên địa bàn tỉnh đã được Trung ương, Bộ chính trị và các cấp ủy, tổ chức đảng từ tỉnh tới cơ sở quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện: (1) Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 23/11/1996 về “Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”. (2) Ban Bí thư (khóa X) ban hành Kết luận số 80-KL/TW ngày 29/7/2010 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị trong tình hình mới.

- Để cụ thể hóa việc thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã có nhiều chủ trương, giải pháp chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, ban, ngành, các đoàn thể từ tỉnh tới cơ sở triển khai thực hiện: Đã ban hành các Chỉ thị, thành lập Ban Chỉ đạo, xây dựng Đề án xây dựng, phát triển tổ chức đảng, kết nạp đảng viên và bên cạnh đó cũng có nhiều chính sách để phát triển doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước trên địa bàn Tỉnh.

(1)- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục, tạo sự thống nhất về nhận thức trong cán bộ, đảng viên và chủ doanh nghiệp về xây dựng, phát triển tổ chức đảng, các đoàn thể nhân dân trong doanh nghiệp.

Tích cực tuyên truyền, vận động để chủ doanh nghiệp nhận thức rõ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm cho chủ doanh nghiệp xác định trách nhiệm với Đảng, nếu chủ doanh nghiệp chưa là đảng viên thì giúp họ có động cơ phấn đấu trở thành đảng viên, thấy sự cần thiết có tổ chức Đảng trong doanh nghiệp. Giáo dục, động viên người lao động phát huy truyền thống, thực hiện tốt trách nhiệm sản xuất, kinh doanh, chấp hành tốt pháp luật và nội quy, quy chế của doanh nghiệp góp phần xây dựng doanh nghiệp phát triển ổn định, bền vững, tích cực tham gia xây dựng Đảng các đoàn thể nhân dân và phấn đấu để trở thành đảng viên, đoàn viên, hội viên.

(2)- Các huyện, thị xã, thành phố nơi có nhiều doanh nghiệp hoạt động, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và công tác quản lý đảng viên trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước; thành lập ban chỉ đạo xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước để chỉ đạo công tác xây dựng củng cố và phát triển tổ chức đảng, các đoàn thể nhân dân trong các loại hình doanh nghiệp, hàng năm tổ chức hội nghị chuyên đề sơ kết rút kinh nghiệm và nhân rộng các điển hình tiên tiến.

- Đối với các doanh nghiệp chưa có tổ chức đảng:

Các Huyện, Thị, Thành uỷ phân công cấp ủy viên và lãnh đạo các ban, ngành có liên quan trực tiếp để lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát triển đảng viên,  thành lập tổ chức đảng ở các doanh nghiệp này. Tập trung chỉ đạo xây dựng, nâng cao chất lượng hoạt động của các đoàn thể nhân dân, nhất là tổ chức công đoàn và đoàn TNCS Hồ Chí Minh để tạo nguồn kết nạp đảng viên tại chỗ.

Tiến hành khảo sát, đánh giá đúng tình hình doanh nghiệp; rà soát, nắm chắc số lượng đảng viên đang làm việc ổn định trong các doanh nghiệp, nhưng vẫn sinh hoạt đảng ở nơi khác, nếu chưa đủ số lượng đảng viên để thành lập chi bộ thì chuyển số đảng viên này về sinh hoạt với một tổ chức đảng phù hợp và tích cực chuẩn bị các điều kiện thành lập tổ chức đảng hoặc chuyển sinh hoạt một số đảng viên ở nơi khác về thành lập chi bộ sinh hoạt ghép, hoặc ở các cơ quan chuyên môn về để thành lập chi bộ và thực hiện công tác tuyên truyền tạo nguồn kết nạp đảng viên.

    Tích cực phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả giữa tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị- xã hội các cấp, trong đó các cấp uỷ đảng đóng vai trò lãnh đạo, chỉ đạo việc phối hợp. Thường xuyên rút kinh nghiệm, kịp thời bổ sung nội dung và biện pháp phối hợp thực hiện công tác phát triển đảng viên, xây dựng tổ chức đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp.

- Đối với những doanh nghiệp chưa có đảng viên (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài):

Cấp uỷ cấp trên nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính, phân công các uỷ viên, đảng viên có kinh nghiệm, phối hợp với các đoàn thể trong doanh nghiệp thực hiện công tác tuyên truyền, vận động, phát hiện, bồi dưỡng, tạo nguồn kết nạp đảng viên; khi có đủ điều kiện thì thành lập tổ chức đảng.

+ Nếu doanh nghiệp có quy mô nhỏ thì các Huyện, Thị, Thành ủy giao cho cấp uỷ cơ sở xã, phường, thị trấn trực tiếp phát triển đảng viên.

+ Nếu doanh nghiệp có quy mô vừa hoặc lớn (nhiều vốn, sử dụng nhiều lao động, có đóng góp nhiều vào ngân sách địa phương) thì do các Huyện, Thị, Thành ủy phân công cấp ủy viên hoặc đảng viên trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phát triển đảng viên.

- Đối với các dự án liên doanh với nước ngoài:

Trong quá trình chuẩn bị dự án, các cơ quan có thẩm quyền chủ động phân công cán bộ, cấp ủy viên, đảng viên tham gia liên doanh, xúc tiến thành lập tổ chức đảng khi doanh nghiệp đi vào hoạt động:

+ Dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô lớn (vốn lớn, nhiều lao động), Sở kế hoạch đầu tư chịu trách nhiệm báo cáo Ban chỉ đạo của tỉnh về công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước để có kế hoạch phân công tổ chức, cá nhân thực hiện thành lập tổ chức đảng.

+ Các dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô nhỏ và vừa do các Huyện, Thị, Thành ủy trực tiếp chỉ đạo việc thành lập tổ chức đảng.

(3)- Các cấp ủy, các tổ chức đoàn thể các cấp tích cực củng cố, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các đoàn thể nhân dân trong doanh nghiệp. Xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức các đoàn thể nhân dân phù hợp với tổ chức đảng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các đoàn thể trong doanh nghiệp. Các cấp ủy đảng thông qua các cấp ủy viên công tác ở các tổ chức đó để nắm tình hình, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng các tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh.

(4)- Những huyện, thị xã, thành phố, thành lập đảng bộ cơ sở khối doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước trực thuộc huyện uỷ, thị uỷ, thành uỷ thì nghiên cứu thành lập các tổ chức đoàn thể cho phù hợp; nếu chưa thành lập đảng bộ cơ sở khối doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước thì các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp đặt trực thuộc các tổ chức đoàn thể huyện, thị xã, thành phố, hoặc các xã, phường, thị trấn tuỳ theo vị trí, quy mô và số lượng đoàn viên, hội viên của từng doanh nghiệp. Các tổ chức đoàn thể cấp trên trực tiếp rà soát, đánh giá cụ thể các tổ chức đoàn thể nhân dân để tổ chức lại cho đồng bộ, phù hợp.

- Đối với những doanh nghiệp đã có các tổ chức đoàn thể: Các cấp uỷ đảng, đoàn thể cấp trên tăng cường chỉ đạo, kiểm tra để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các đoàn thể nhân dân trong doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp giải quyết những khó khăn vướng mắc.

Các đoàn thể nhân dân phải tự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động cho phù hợp với điều kiện của từng loại hình doanh nghiệp. Cùng với việc chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, phải động viên đoàn viên, hội viên chấp hành đúng pháp luật, thực hiện tốt nội quy, trách nhiệm sản xuất, kinh doanh, tích cực tham gia xây dựng doanh nghiệp

- Đối với các doanh nghiệp chưa có các tổ chức đoàn thể: Ban chấp hành công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh cấp trên tích cực chỉ đạo tuyên truyền, vận động chủ doanh nghiệp để kết nạp đoàn viên, hội viên chuẩn bị thành lập tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên hoặc hội liên hiệp thanh niên, hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh trong doanh nghiệp, nhất là ở những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động.

    - Từ các giải pháp và sự quan tâm vào cuộc của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, ban, ngành: Đến nay trên địa bàn tỉnh đã có trên 9.340 doanh nghiệp; 73 tổ chức cơ sở đảng (38 đảng bộ, 35 chi bộ cơ sở); 312 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở trong DN với 4.463 đảng viên (chiếm tỷ lệ trên 5% so với tổng số đảng viên trong toàn đảng bộ tỉnh); thành lập mới 168 công đoàn cơ sở, 75 tổ chức đoàn, 16 hội Liên hiệp thanh niên. Đã thành lập 05 đảng bộ cơ sở, thành lập và kiện toàn trên 100 chi bộ doanh nghiệp vừa và nhỏ (Hạ Long, Đông Triều, Cẩm Phả, Móng Cái, Uông Bí); kết nạp trên 457 đảng viên mới.

- Qua hội nghị này, chúng tôi sẽ tiếp tục tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong giới chủ doanh nghiệp, công nhân, người lao động để tạo sự thống nhất về nhận thức trong cán bộ, đảng viên và chủ doanh nghiệp để tiếp tục tăng cường công tác xây dựng tổ chức đảng, các đoàn thể và kết nạp đảng viên.

- Chúng tôi cũng rất mong muốn công nhân, lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Câu hỏi số 3: Chính phủ đã có Quyết định số 1780 về phê duyệt Đề án xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các khu công nghiệp đến năm 2015, định hướng đến năm  2020, nhưng đến nay tỉnh vẫn chưa triển khai thực hiện. Đề nghị tỉnh sớm chỉ đạo các ngành liên quan thực hiện nhằm nâng cao đời sống văn hóa cho CNLĐ trong khu công nghiệp.

Trả lời:

Ngày 12/10/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 1780/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng đời sống văn hoá công nhân ở các khu công nghiệp đến năm 2015, định hướng đến năm 2020” với mục tiêu xây dựng đội ngũ công nhân có nếp sống văn hóa lành mạnh, có tác phong làm việc công nghiệp, năng suất, chất lượng và hiệu quả. Đề án được Chính phủ giao Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam chủ trì phối hợp với một số bộ, ban, ngành thực hiện.

Đề án có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo ra sự chuyển biến về nhận thức trong các tầng lớp công nhân lao động, các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội về vai trò, vị trí của văn hóa và trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa trong giai đoạn mới, góp phần quan trọng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 11 Khu công nghiệp, trong đó có 04 Khu công nghiệp đã đi vào hoạt động:  Khu CN Cái Lân và Khu CN Việt Hưng – TP. Hạ Long; Khu CN Hải Yên - Móng Cái; Khu CN Đông Mai – TX Quảng Yên.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng đời sống văn hoá, đặc biệt tại các Khu công nghiệp sẽ tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy các phong trào thi đua hăng say lao động, sản xuất, công tác và học tập cho công nhân lao động. Trong thời gian tới tỉnh sẽ quan tâm triển khai Đề án sau khi được phê duyệt. Giao Liên đoàn Lao động tỉnh chủ trì phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các Sở ngành liên quan tiếp tục tham mưu cho Ủy ban nhân dân Tỉnh để triển khai có hiệu quả Đề án. Tỉnh sẽ ưu tiên bố trí nguồn kinh phí để thực hiện đề án trên.

Câu hỏi số 4: Đề nghị cho biết định hướng phát triển công nghiệp của tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và đặc biệt là Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp điện tại địa phương.

Trả lời:

Quảng Ninh được cả nước biết đến là một tỉnh có nhiều lĩnh vực công nghiệp phát triển nổi trội: (1) là trung tâm sản xuất kinh doanh than, có tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh đến nay chiếm trên 55%; (2) là trung tâm về sản xuất điện, đến năm 2013 đã có 9 nhà máy nhiệt điện với tổng công suất là 2945MW, đến năm 2020 sẽ có 13 Nhà máy nhiệt điện với tổng công suất 6185 MW chiếm 15% tổng công suất của các nhà máy điện trên toàn quốc, đến năm 2030 tổng công suất các nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh là 10.480MW. (3) là Trung tâm đóng tàu với Công ty đóng tầu Hạ Long đã tập trung đầu tư công nghệ kỹ thuật đóng tàu hiện đại, chế tạo thành công những con tàu trọng tải 6.500 tấn, 12.500 tấn, tàu chuyên chở container 1.700 TEU, tàu 53 ngàn tấn; (4) là trung tâm sản xuất vật liệu xây dựng, trong đó sản xuất xi măng với tổng công suất 7,5 - 7,6 triệu tấn/năm. Đặc biệt phát triển nhiệt điện với 9 nhà máy nhiệt điện hoàn thành đưa vào sử dụng, đang hoàn thành Nhà máy nhiệt điện Mông Dương 1, Mông Dương 2 đưa vào sử dụng đúng tiến độ vào năm 2015 và 2017, để đến năm 2020 chiếm 15% tổng công suất các nhà máy điện trên toàn quốc; đã hoàn thành điện lưới quốc gia cho huyện đảo Cô Tô, đây là quyết tâm chính trị của cả hệ thống chính trị vì quốc phòng an ninh và chủ quyền biển đảo quốc gia; là tỉnh đầu tiên cả nước hoàn thành đầu tư xây dựng lưới điện nông thôn, đưa điện lưới đến tận thôn khe bản và nâng tỷ lệ dùng điện toàn tỉnh lên 99,45% hoàn thành tiêu chí  về điện trong xây dựng nông thôn mới.

Trong giai đoạn 2010 - 2013, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng trưởng bình quân trên 5%/năm, đặc biệt trong giai đoạn 2010 - 2013 ngành điện tăng trưởng bình quân 23,69%/năm.  Thực hiện Quyết định số 2622/QĐ- TTg ngày 31/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011- 2020 có xét đến năm 2030 (Tổng sơ đồ VII) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1208/QĐ- TTg ngày 21/7/2011 và Quyết định 3096/QĐ-UB ngày 23/11/2012 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025. Với định hướng phát triển công nghiệp:

1. Phát triển ngành công nghiệp cơ khí chế tạo, cơ khí chính xác trở thành một trong những ngành công nghiệp then chốt của Quảng Nin, tạo ra sản phẩm có hàm lượng khoa học công nghệ và giá trị gia tăng cao ( hiện nay có Nhà máy chế tạo thiết bị nâng hạ thuộc Xí nghiệp cơ khí Quang Trung ở Phương Nam, Uông Bí).

2. Phát triển công nghiệp hỗ trợ để cung cấp đầu vào cho các cơ sở sản xuất công nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, góp phần giải quyết việc làm, giảm sự lệ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu (như đang xây dựng Nhà máy sản xuất bộ dây dẫn điện ô tô tại KCN Đông Mai, thị xã Quảng Yên có tổng vốn đầu tư 35 triệu USD, được xây dựng trên lô đất có diện tích 70.000m2, dự kiến sử dụng khoảng 3.000 công nhân lao động lành nghề)

3. Phát triển công nghiệp chế biến, tập trung vào chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm về nông thôn, khuyến khích đầu tư phát triển các nhà máy, cơ sở chế biến trang thiết bị hiện đại gắn với xây dựng các vùng nguyên liệu tại chỗ để sản xuất các sản phẩm chất lượng cao tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Ưu tiên cho các dự án đầu tư sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ để chế biến thịt, sữa, rau quả, gổ rừng trồng… , thu hút đầu tư đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, tạo giá trị gia tăng cao, giá trị xuất khẩu (Chế biến Lâm sản: Công ty TNHH Thanh Lâm ở cụm Công nghiệp Nam Sơn, Ba Chẽ và huyện Đầm Hà; Chế biến Thủy sản: Công ty CP Chế biên thủy sản I và II, thành phố Hạ Long và thị xã Quảng Yên; chế biến sợi của Tập đoàn Texhong, thành phố Móng Cái với 4000 công nhân lao động lành nghề và dự kiến xây dựng nhà máy thứ hai tại khu công nghiệp Hải Hà).

4. Phát triển công nghiệp điện: tiếp tục triển khai đầu tư xây dựng các nhà máy nhiệt  điện theo quy hoạch giai đoạn 2011- 2020 đã được các nhà đầu tư triển khai đầu tư nhiệt điện: Mông Dương 1, Mông Dương 2 đã khởi công xây dựng; các chủ đầu tư đang phối hợp cùng địa phương lựa chọn địa điểm đầu tư để tiến hành chuẩn bị đầu tư theo giai đoạn.

5. Phát triển công nghiệp đóng tàu và dịch vụ cảng biển: Nâng cao năng lực các nhà máy đóng tàu, thu hút đầu tư khu công nghiệp Hải Hà ( Tập đoàn Texhong đầu tư dự kiến trên 940 triệu USD, giai đoạn đầu thu hút từ 20.000 đến 30.000 công nhân lao động).

6. Thực hiện hiệu quả ba khâu đột phá chiến lược, dịch chuyển phương thức hoạt động từ “ nâu” sang “xanh” với ngành công nghiệp là sản xuất bền vững trọng tâm là: Phục hồi tăng trưởng của ngành công nghiệp đi đôi với nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp; Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ và các ngành công nghiệp phi khai khoáng, đồng thời đảm bảo hoạt động khai thác than được sạch hơn và bền vững hơn, đảm bảo hoạt động khai thác phù hợp với mục tiêu phát triển du lịch và chất lượng cuộc sống.

7. Tập trung phát triển nguồn nhân lực song song với việc cơ cấu lại nền công nghiệp của Tỉnh theo hướng hiện đại, bền vững. Phấn đấu hình thành đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản trị doanh nghiệp có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thông hiểu pháp luật. Có đội ngũ người lao động tác phong công nghiệp, gắn bó với nghề, với doanh nghiệp. Tăng cường đào tạo nghề cho lao động, đặc biệt là lao động kỹ thuật cao, chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, góp phần quan trọng cho việc xây dựng tỉnh Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại.

Câu hỏi số 5: Hiện nay nhiều doanh nghiệp khó khăn do tái cơ cấu nên một bộ phận không nhỏ CNLĐ bị giãn việc, nghỉ tự túc, chấm dứt hợp đồng lao động. Đề nghị tỉnh có những giải pháp để tạo đủ việc làm cho CNLĐ trong thời gian tới.

Trả lời:

Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) là đơn vị có số lượng doanh nghiệp và người lao động chiếm tỷ trọng lớn.

Thực hiện Quyết định số 314/QĐ-TTg ngày 7/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu Tập đoàn Công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2012-2015, TKV đang triển khai Đề án theo đúng lộ trình được phê duyệt. Theo kế hoạch tái cơ cấu, các doanh nghiệp của TKV được tổ chức, bố trí lại theo chức năng, nhiệm vụ sẽ thay đổi tư cách pháp nhân (trở thành chi nhánh/công ty con) hoặc thoái vốn, chuyển nhượng vốn cổ phần.

- Trong quá trình tái cơ cấu, để hạn chế sự bất ổn, xáo trộn lớn lao động, doanh nghiệp sẽ xử lý theo lộ trình hằng năm; hoặc tự vận động, thuyết phục người lao động về nghỉ để tinh giản lao động, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp. Người lao động nghỉ hưu trước tuổi, sẽ được hỗ trợ kinh phí, còn nếu chấm dứt hợp đồng lao động sẽ được trợ cấp thôi việc). Quá trình sắp xếp không tránh khỏi việc một số lao động gián tiếp phải bố trí công việc khác như phụ trợ, phục vụ hay làm công nhân trực tiếp, là công việc bình thường trong sắp xếp, tổ chức của bất kỳ doanh nghiệp nào.

- Đối với các đơn vị mà TKV thoái vốn, chuyển nhượng vốn cổ phần, đương nhiên phải chấp nhận nguyên tắc thị trường, cạnh tranh bình đẳng với các đơn vị khác, tuy nhiên TKV cũng đồng thuận với đề nghị của Sở Lao động TB&XH tại buổi làm việc giữa Sở Lao động TB&XH với TKV ngày 17/04/2014: trước mắt sẽ tạo điều kiện duy trì các hợp đồng cung ứng các loại dịch vụ của các đơn vị này với TKV, để đảm bảo ổn định việc làm và thu nhập cho người lao động.

Ngày 28/04/2014, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 825/QĐ/UBND về Chương trình hành động Tái cơ cấu kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng hiệu quả và năng lực cạnh tranh tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014-2020, cùng với quá trình đó là việc sắp xếp, cơ cấu lại lực lượng lao động.

Một số giải pháp của tỉnh nhằm tạo việc làm

Hiện nay tỉnh đã và đang đẩy mạnh việc thực hiện một số giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động bao gồm:

1. Đẩy mạnh công tác xây dựng các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, xúc tiến, thu hút đầu tư và sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực: Công nghiệp chế biến, lắp ráp, sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ... thu hút lao động, giải quyết việc làm

Từ sau Hội nghị Xúc tiến đầu tư năm 2012 đã có nhiều dự án đầu tư tại tỉnh: Dự án sản xuất sợi của Công ty Texhong Ngân Long (KCN Hải Yên); Dự án của Chi nhánh Công ty YAZAKI, sản xuất thiết bị điện ô tô, sử dụng khoảng 3000 lao động (KCN Đông Mai) ...

Các ngành chức năng của tỉnh đã trực tiếp vào cuộc chỉ đạo các địa phương, các đơn vị tư vấn, giới thiệu việc làm hỗ trợ doanh nghiệp tuyển dụng, đồng thời tuyên truyền sâu rộng đến mọi đối tượng lao động có nhu cầu ở các địa phương, đến nay đã đáp ứng đủ lao động cho giai đoạn 2 của Công ty TNHH TexHong Ngân Long với khoảng 4.500 lao động.

2. Hỗ trợ và khuyến khích người lao động học nghề, tự tạo việc làm

Qua việc thành lập mới và đầu tư nâng cấp hệ thống trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề, thực hiện Đề án 1956 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (5000 lao động/năm), tạo điều kiện cho nông dân đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo việc làm tại chỗ và tăng thu nhập; dạy nghề miễn phí cho lao động thất nghiệp. Mỗi năm đào tạo nghề mới và đào tạo lại cho khoảng 35.000 lao động.

3. Các hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm khác

a) Giải quyết việc làm qua hoạt động cho vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm

Đối tuợng cho vay vốn giải quyết việc làm gồm các cơ sở sản xuất kinh doanh và hộ gia đình, thực hiện theo các quy định tại: Quyết định số 71/QĐ-2005/QĐ-Ttg  ngày 05/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 15/2008/QĐ-Ttg ngày 23/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 71/2005/QĐ-Ttg về cơ chế quản lý, điều hành vốn cho vay của Quỹ quốc gia về việc làm; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT-BLĐTBXH ngày 29/7/2008 của Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn một số điều của Quyết định số 71/QĐ-2005/QĐ-Ttg ngày 05/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 15/2008/QĐ-Ttg ngày 23/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 71/2005/QĐ-Ttg;

- Hiện nay, tổng nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm tỉnh được giao quản lý là 92,671 tỷ đồng, trong đó vốn Trung ương là 72,156 tỷ đồng, vốn địa phương là 11,924 tỷ đồng. (Năm 2013, 2014 tỉnh Quảng Ninh không được bổ sung vốn mới từ Trung ương);

- Từ năm 2012 đến nay, số vốn đã cho vay giải quyết việc làm hằng năm khoảng 35 tỷ đồng, chủ yếu từ nguồn vốn thu hồi hằng năm, với khoảng 1.500 dự án được cho vay, trong đó bao gồm cả các dự án cơ sở sản xuất kinh doanh và hộ gia đình, đã giải quyết việc làm cho khoảng 1.700 lao động.

b) Chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động

Quyết định số 428/2012/QĐ-UBND ngày 29/02/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ lao động tỉnh Quảng Ninh đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng, giai đoạn 2011 - 2015. Theo đó:

- Các đối tượng người lao động thuộc diện chính sách và lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo: Được hỗ trợ chi phí giáo dục định hướng; học nghề; khám sức khỏe trước khi xuất cảnh, chi phí làm visa; Được vay vốn với lãi suất ưu đãi như vay vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm từ ngân hàng Chính sách xã hội;

- Các đối tượng còn lại: được hưởng các chính sách hỗ trợ chi phí giáo dục định hướng; vay vốn với lãi suất ưu đãi như vay vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm từ ngân hàng Chính sách xã hội.

Chính sách hỗ trợ của Quảng Ninh hiện nay là cao so với nhiều tỉnh trong cả nước.

c) Tổ chức các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, sàn giao dịch việc làm: Các trung tâm giới thiệu việc làm, doanh nghiệp dịch vụ việc làm tích cực tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm, tăng tần suất các sàn giao dịch việc làm tại những địa phương có cung lao động lớn (Hạ Long, Uông Bí, Móng Cái), tạo môi trường, điều kiện thuận lợi kết nối quan hệ lao động, giúp người lao động tìm kiếm việc làm, doanh nghiệp tuyển dụng một cách dễ dàng hơn.

Câu hỏi số 6: “Đề nghị tỉnh có nhiều kênh thông tin và cơ chế ưu đãi cho các doanh nghiệp địa phương có đủ năng lực trong việc tiếp cận để cạnh tranh, đấu thầu thi công công trình, dự án của tỉnh tạo thêm việc làm cho người lao động và góp phần giải quyết khó khăn cho các doanh nghiệp”.

Trả lời:

- Về đăng tải thông tin trong đấu thầu đã được quy định trong Luật Đầu thầu tại Điều 5 Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội; Điều 7  Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng.

Theo đó, ngoài các trường hợp chỉ định thầu được quy định tại Điều 40 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP quy định về trường hợp được chỉ định thầu và điều kiện áp dụng (Gói thầu dịch vụ tư vấn có giá gói thầu không quá 3 tỷ đồng, gói thầu mua sắm hàng hóa có giá gói thầu không quá 2 tỷ đồng, gói thầu xây lắp, gói thầu lựa chọn tổng thầu xây dựng có giá trị gói thầu không quá 5 tỷ đồng... Các trường hợp còn lại phải được đấu thầu rộng rãi trong nước (hoặc quốc tế). Các chủ đầu tư, bên mời thầu phải có trách nhiệm đăng tải rộng rãi các thông tin về đấu thầu (bao gồm các thông tin về: Kế hoạch đấu thầu, thông báo mời sơ tuyển, kết quả sơ tuyển, thông báo mời thầu, danh sách nhà thầu mời  tham gia đấu thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu, thông tin xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu… ) đến các nhà thầu (các tổ chức và cá nhân) trong nước quan tâm trên Báo Đấu thầu và trang thông tin điện tử về đấu thầu của cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu.

- Các hoạt động đấu thầu phải đảm bảo tính hiệu quả, kinh tế, công khai, minh bạch, đảm bảo tính cạnh tranh và loại trừ được những phát sinh tham nhũng tiêu cực. Do vậy, để giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, trong giai đoạn hiện nay các doanh nghiệp xây lắp trong tỉnh cần phải nâng cao năng lực của chính mình về cả tài chính và nhân lực, xây dựng chữ tín và thương hiệu, đẩy mạnh việc liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác có năng lực, kinh nghiệm nhất là trong vấn đề vốn để có thể đủ năng lực tham gia đấu thầu và thắng thầu các dự án quy mô vừa đến lớn; các cơ chế ưu đãi phải thực hiện theo quy định hiện hành.

Câu hỏi số 7: "Tỉnh đã có Đề án xây dựng nhà ở tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, trong đó có nhà ở cho người có thu nhập thấp, nơi tập trung đông CNLĐ. Năm 2013, tỉnh đã có chủ trương tập trung triển khai xây dựng nhà ở cho CNLĐ tại 3 địa phương: Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí; nhưng đến nay vẫn chưa được triển khai. Đề nghị đồng chí cho biết chủ trương của tỉnh về việc triển khai đề án trên trong năm 2014 và các năm tiếp theo để các nội dung trên sớm được thực hiện".

Trả lời:

1. Thực hiện Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011, Tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng và phê duyệt Đề án: Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (phê duyệt tại Quyết định số 3476/QĐ-UBND ngày 27/12/2012).

Đề án đã đánh giá thực trạng nhà ở trên địa bàn tỉnh và định hướng nhu cầu phát triển nhà ở trong tương lai, trong đó Tỉnh đặc biệt quan tâm phát triển các loại hình nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp, công nhân lao động, các đối tượng chính sách xã hội… Để khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh, Tỉnh đã xây dựng và ban hành "cơ chế chính sách phát triển nhà ở công vụ cho cán bộ, công chức các cơ quan thuộc hệ thống chính trị; nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013-2020" (tại Quyết định số 3477/2012/QĐ-UBND ngày 27/12/2012 của UBND tỉnh).

2. Thực hiện Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Quảng Ninh, UBND tỉnh đã xây dựng Kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2013-2015, trong đó đặc biệt chú trọng, ưu tiên và khuyến khích phát triển các loại hình nhà ở xã hội, cụ thể:

a. Đối với nhà ở cho công nhân:

- Hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 11 KCN và nhiều cụm công nghiệp, nhiều doanh nghiệp có số lượng công nhân lớn (điện, than, xi măng, VLXD...). Trong 11 KCN có 4 KCN đã đi vào hoạt động: (1) KCN Cái Lân cơ bản đã lấp đầy. Hiện nay nhu cầu nhà ở công nhân là rất lớn. Tỉnh Quảng Ninh đã bỗ trí quỹ đất và giao Ban quản lý đầu tư các công trình trọng điểm làm chủ đầu tư dựa án khu nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp và cho công nhân KCN Cái Lân tại Đồi Thủy sản, phường Bãi Cháy dự kiến sẽ đầu tư 04 tòa chung cư cao 5 tầng với tổng diện tích sàn khoảng 18.000m2, tương ứng với 217 căn hộ và đáp ứng cho khoảng gần 900 người. Ngoài ra Tỉnh đang xem xét đề xuất xây dựng khu nhà ở cho công nhân của Công ty CP Xi măng và xây dựng Quảng Ninh. (2) KCN Hải Yên: Những năm qua, Tỉnh đã tạo điều kiện điều chỉnh quy hoạch, quỹ đất cho Tập đoàn Texhong để triển khai đầu tư xây dựng Khu chung cư tập trung cho công nhân Dự án nhà máy sợi (Quỹ đất khoảng 4,0 ha, xây dựng 05 khối nhà chung cư 05 tầng gồm 696 căn hộ, đáp ứng nhu cầu nhà ở gần 5.000 công nhân). Đến nay Công ty đã xây dựng xong và đưa vào sử dụng 04/05 khối nhà, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu nhà ở cho công nhân hiện có. (3) KCN Đông Mai: Hiện nay đang có 01 dự án FDI triển khai (dự án sản xuất dây cáp điện của Công ty TNHH Yazki Hải Phòng), dự kiến cuối năm 2014 khi đi vào hoạt động sẽ thu hút khoảng 3.000 lao động. Để đáp ứng cho nhu cầu nhà ở công nhân của cả KCN, UBND tỉnh đã có văn bản chấp thuận địa điểm xây dựng nhà ở công nhân và chuyên gia của KCN Đông Mai (QĐ số 2706/QĐ-UBND ngày 08/10/2013) với quy mô sử dụng đất khoảng 6,74ha, đáp ứng chỗ ở cho khoảng 7.500 công nhân. (4) KCN Việt Hưng: Hiện đang thu hút các nhà đầu tư. Tỉnh đã bố trí quỹ đất để xây dựng nhà ở cho công nhân lao động.

- Đối với nhà ở công nhân cho ngành Than: Các đơn vị ngành Than trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung ở các địa phương: Cẩm Phả, Hạ Long, Uông Bí và Đông Triều. Trong những năm qua, Tỉnh Quảng Ninh luôn quan tâm, tạo điều kiện cho các đơn vị ngành Than tập trung phát triển sản xuất kinh doanh, trong đó có việc đầu tư xây dựng các khu nhà ở cho công nhân ngành Than (quy hoạch, tạo quỹ đất, chuyển đổi mục đích…). Theo báo cáo của Tập đoàn Công nghiệp Than Khoảng sản Việt Nam: Hiện có khoảng 138.000 CBCNV, trong đó thợ lò chiếm khoảng 80% (khoảng 110.000 công nhân và đa số là người ngoài tỉnh). Đến thời điểm hiện tại, có khoảng 10 dự án nhà ở công nhân cao tầng của ngành Than đã hoàn thành và đi vào sử dụng, đáp ứng cho khoảng 1.692 người. Dự kiến đến năm 2015, số lượng cán bộ công nhân viên (CBCNV) của Tập đoàn lên đến 161.000  người, trong đó có khoảng 130.000 công nhân. Nhu cầu của CBCNV Ngành than về nhà ở là rất lớn dự kiến cần thêm khoảng 4.579 căn hộ (tương ứng với 23 dự án; tổng mức đầu tư: 2.022,0 tỷ đồng). Tỉnh đã yêu cầu Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện Đề án nhà ở công nhân ngành Than đến năn 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 để làm cơ sở triển khai trong thời gian tới.

b. Đối với nhà ở thu nhập thấp: Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã và đang triển khai một số dự án nhà ở thu nhập thấp: Dự án nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp và công nhân lao động tại Cụm Công nghiệp Kim Sen, huyện Đông Triều của Công ty CP Gốm màu Hoàng Hà, dự án nhà ở cho người có thu nhập thấp tại phường Bắc Sơn, thành phố Uông Bí của Công ty TNHH Tập đoàn Xuân Lãm, dự án nhà ở xã hội tại phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long của Công ty Duyên Hải, Quân Khu 3…(hiện các dự án trên đang điều chỉnh theo Nghị định số 188/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ "Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội" và được cập nhật, bổ sung vào Kế hoạch phát triển nhà ở xã hội của Tỉnh giai đoạn 2013-2020). Các dự án trên sẽ góp phần tạo chỗ ở ổn định cho người thu nhập thấp, công nhân lao động trên địa bàn; góp phần cụ thể hóa Chương trình phát triển nhà ở của Tỉnh, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần làm ấm dần thị trường bất động sản trên địa bàn tỉnh. UBND tỉnh đã tích cực chỉ đạo các Sở, ngành chức năng quan tâm, tạo điều kiện và áp dụng chính sách ưu đãi của Nhà nước và của Tỉnh đối với các dự án trên.

3. Những giải pháp, chỉ đạo để triển khai Chương trình phát triển nhà ở của Tỉnh trong thời gian tới:

(1) Thống nhất quan điểm phát triển nhà ở đặc biệt là nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp, công nhân lao động, đối tượng chính sách xã hội là trách nhiệm của các cấp uỷ, chính quyền, của cộng đồng xã hội và của người dân trên địa bàn tỉnh, trong đó các doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp tập trung phải xác định rõ trách nhiệm trong việc xây dựng nhà ở cho công nhân; tỉnh hỗ trợ tối đa theo quy định để các doanh nghiệp triển khai các mô hình nhà ở công nhân lao động.

(2) Phải tập trung hoàn thành các quy hoạch quan trọng (quy hoạch xây dựng vùng tỉnh, các quy hoạch xây dựng vùng huyện; quy hoạch phát triển du lịch, quy hoạch môi trường, quy hoạch nguồn nhân lực…). Trên cơ sở đó rà soát, bố trí quỹ đất để xây dựng nhà ở. Đặc biệt trong các đồ án quy hoạch KCN, Cụm CN, các nhà máy, doanh nghiệp sử dụng nhiều công nhân lao động sẽ yêu cầu chủ đầu tư phải bố trí quỹ đất để xây dựng nhà ở cho công nhân lao động.

(3) Thực hiện đồng bộ chính sách thúc đẩy thị trường nhà ở phát triển, đồng thời tập trung thực hiện các chính sách khuyến khích, ưu đãi (ở mức cao nhất) cho các nhà đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho các đối tượng chính sách xã hội, người có thu nhập thấp, công nhân lao động và người nghèo gặp khó khăn về nhà ở nhằm góp phần ổn định chính trị, bảo đảm an sinh xã hội, thu hút lao động và phát triển đô thị, nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại.

(4) Phát triển đa dạng các nhóm nhà ở xã hội (quy mô, diện tích, giá thành...) nhưng vẫn đảm bảo chất lượng và không gian kiến trúc theo quy hoạch chung; thí điểm mô hình "4 nhà": Nhà nước, nhà đầu tư, tổ chức tín dụng và người dân cùng tham gia phát triển nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua đảm bảo hài hoà lợi ích của tất cả các bên.

Câu hỏi số 8: Từ năm 2010 đến nay, UBND tỉnh và UBND thành phố Hạ Long thông báo chủ trương mở rộng nút giao thông ngã  tư Loong Toòng và sẽ lấy khu đất trụ sở của Công ty cổ phần xe khách QN làm khu tái định cư. Hiện nay trụ sở Công ty đã xuống cấp; nhiều hạng mục không đảm bảo an toàn cần phải sửa chữa nhưng không được chấp thuận, trong khi đó Công ty vẫn phải đóng thuế đất và đang gặp rất nhiều khó khăn. Đề nghị tỉnh quan tâm chỉ đạo thành phố Hạ Long sớm có quy hoạch chính thức để Công ty ổn định SXKD và đề nghị tỉnh xem xét giảm hoặc miễn thuế đất cho Công ty giai đoạn này.

Trả lời:

1. Về quy hoạch:

- Hiện trạng bến xe do Công ty cổ phần xe khách Quảng Ninh quản lý, kinh doanh tại khu vực ngã tư Loong Toòng phường Trần Hưng Đạo. Theo Quy hoạch chi tiết (tỷ lệ 1/500) - Cải tạo, mở rộng nút giao thông ngã tư Loong Toòng và tuyến đường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long được UBND Thành phố phê duyệt kèm theo Quyết định số 2345/QĐ-UBND ngày 07/10/2013 thì khu vực bến xe hiện trạng được xác định là đất tái định cư cho các hộ dân.

- Để bố trí bến xe mới cho Công ty cổ phần xe khách Quảng Ninh tiếp tục kinh doanh, UBND Thành phố đã lập “Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 - khu tái định cư, dân cư đô thị, bến xe liên tỉnh tại khu vực Nam ga Hạ Long, phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long” trong đó có khu vực Bến xe liên tỉnh dự kiến sẽ bố trí cho Công ty cổ phần xe khách Quảng Ninh. Quy hoạch này hiện đang được chỉnh sửa lần cuối theo ý kiến tham gia của các Sở, ngành liên quan trước khi phê duyệt. Dự kiến trong tháng 6/2014 sẽ phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện dự án theo quy định.

2. Về ổn định kinh doanh:

- Mấy năm gần đây, trong ranh giới đất cho Công ty cổ phần xe khách Quảng Ninh quản lý, sử dụng - đơn vị đã cho các doanh nghiệp khác thuê lại mặt bằng mặt tiền lô đất để xây dựng cửa hàng, cơ sở kinh doanh các mặt hàng khác không phải bến xe như: 02 cửa hàng bán điện thoại di động của Thế giới di động, Viễn thông A; cửa hàng nội thất Thành Quân; cửa hàng sửa chữa, mua bán xe máy của Honda; cửa hàng bán xe đạp điện...

- Phần trụ sở Công ty cổ phần xe khách Quảng Ninh (được xây dựng theo quy hoạch trước đây) nằm sâu bên trong lô đất vẫn hoạt động bình thường nếu công trình kiến trúc xuống cấp, Công ty có nhu cầu sửa chữa thì đến UBND Thành phố để được hướng dẫn sửa chữa nguyên trạng, đảm bảo an toàn trong quá trình sử dụng (không được xây mới vì không phù hợp với quy hoạch được duyệt kèm theo Quyết định số 2345/QĐ-UBND ngày 07/10/2013). Việc này, UBND Thành phố đã nhiều lần giải thích và hướng dẫn.

- Hiện nay, chưa có Quyết định thu hồi đất đã giao cho Công ty cổ phần xe khách Quảng Ninh để thực hiện dự án Cải tạo, mở rộng nút giao thông ngã tư Loong Toòng và tuyến đường Trần Hưng Đạo nên Công ty vẫn hoạt động và kinh doanh bình thường. Khi bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng Công ty sẽ được đảm bảo quyền lợi và phải bàn giao mặt bằng theo quy định hiện hành.

- Về đề nghị giảm hoặc miễn tiền thuê đất: không có cơ sở để giải quyết theo đề nghị.

Câu hỏi số 9: "Công ty cổ phần vận tải và xếp dỡ Quảng Ninh đã bàn giao mặt bằng sản xuất khu vực Cảng Hòn Gai để xây dựng các công trình xã hội theo chỉ đạo của Tỉnh. Hiện nay Công ty phải thuê mặt bằng để hoạt động và gặp rất nhiều khó khăn do không ổn định. Đề nghị Tỉnh sớm có quy hoạch và giao đất cho doanh nghiệp để doanh nghiệp ổn định sản xuất tạo việc làm cho người lao động".

Trả lời:

Trong thời gian qua, UBND tỉnh đã quan tâm bố trí cho Công ty các quỹ đất để xây dựng Khu trụ sở làm việc và khu cảng để đáp ứng các yêu cầu về sản xuất của Công ty, cụ thể:

- Bố trí mặt bằng cảng tại Cụm cảng Làng Khánh thuộc phường Hà Khánh, thành phố Hạ Long (theo Quy hoạch tổng thể tỷ lệ 1/2.000 được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định 2377/QĐ-UBND ngày 14/8/2006); với tổng diện tích 58.063m2 (gồm: diện tích mặt bến 44.435m2; diện tích mặt nước trước bến 13.628m2), đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500.

- Bố trí mặt bằng trụ sở làm việc tại lô đất CQ1 thuộc quy hoạch chi tiết xây dựng Tuyến kè bao ngoài và hạ tầng khu đô thị mới hình thành giữa tuyến kè bao ngoài và tuyến đường bao biển Cao Xanh - Hà Khánh A, B, C, D (đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1736/QĐ-UBND ngày 11/6/2010); với tổng diện tích 6.226m2, được nghiên cứu triển khai theo dự án riêng.

- Năm 2011 (thời điểm Công ty bàn giao mặt bằng sản xuất khu vực Cảng Hòn Gai), do cảng của Công ty tại khu vực Làng Khánh đang thi công hạ tầng đấu nối, phương tiện thủy ra vào cảng phụ thuộc vào thủy triều không đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh; UBND tỉnh đã chấp thuận để Công ty nghiên cứu đầu tư xây dựng mố cập tầu (để di chuyển thiết bị làm cảng biển, không tổ chức bốc xếp hàng hóa) tại vị trí liền kề khu vực quy hoạch văn phòng Công ty phía ngoài Tuyến kè bên ngoài đường bao biển Khu đô thị Cao Xanh – Hà Khánh A, B, C, D (tại Văn bản số 2903/UBND-QH1 ngày 29/7/2011 và Văn bản số 34/UBND-QH1 ngày 06/01/2012). Khu vực mố cập tầu đã được UBND thành phố Hạ Long phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500.

Các bố trí quỹ đất quy hoạch cảng, trụ sở làm việc nêu trên đáp ứng được các yêu cầu hoạt động của Công ty. Đề nghị Công ty sớm triển khai các dự án theo các quy hoạch để ổn định sản xuất, tạo việc làm cho người lao động; nếu có vướng mắc trong quá trình triển khai, Công ty chủ động báo cáo UBND tỉnh, các ngành chức năng để được xem xét, giải quyết.

Câu hỏi số 10: "Hiện nay Công ty CP Than Núi Béo có hàng trăm ha đất hoàn nguyên tại khu vực phía Bắc phường Hà Tu và phía Đông phường Hà Trung. Cùng với sự phát triển của doanh nghiệp số CNVCLĐ sẽ tăng nhanh trong thời gian tới. Chúng tôi đề nghị Tỉnh cho Công ty được quy hoạch mặt bằng nói trên để xây dựng làng công nhân (gồm nhà ở và các công trình văn hóa thể thao). Đề nghị đồng chí Bí thư và Tỉnh ủng hộ.

Trả lời:

Việc sử dụng quỹ đất các bãi thải, các khu khai trường khai thác sau khi hoàn nguyên để phát triển thành các các khu chức năng đô thị (đất ở cho người có thu nhập thấp, đất công viên cây xanh, đất xây dựng Khu công viên Nghĩa trang...) là cần thiết và phù hợp trong các giai đoạn tiếp theo. Các định hướng sử dụng các quỹ đất sau hoàn nguyên đã được đưa vào đồ án Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh, Quy hoạch chung xây dựng thành phố Hạ Long (đang hoàn thiện chuẩn bị trình duyệt) nhằm cụ thể hóa các định hướng về chuyển đổi phương thức phát triển từ "nâu" sang "xanh"; đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế ...

- Quỹ đất hiện mỏ Núi Béo đang, đã hoàn nguyên tại khu vực Bắc phường Hà Tu và phía Đông phường Hà Trung chủ yếu nằm trong ranh giới quy hoạch Quy hoạch xây dựng tỷ lệ 1/2000 Dự án mở rộng nâng công suất mỏ than Núi Béo và Đề án các giải pháp khai thác - đổ thải - thoát nước tiến tới kết thúc khai thác lộ thiên vùng Hòn Gai, thành phố Hạ Long (được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1825/QĐ-UBND ngày 09/6/2011) và một phần khu dân cư hiện trạng.

- UBND tỉnh đã có Văn bản số 3838/UBND-QH1 ngày 08/8/2012 "V/v lập quy hoạch phân khu chức năng tỷ lệ 1/2000 khu vực phía Bắc quốc lộ 18A, thành phố Hạ Long (đoạn từ phía sau Trụ sở Công an tỉnh đến khu vực văn phòng mỏ Hà Tu)" (trong đó: Giao UBND thành phố Hạ Long phối hợp với Công ty Than Núi Béo nghiên cứu lập quy hoạch phân khu chức năng khu vực để quản lý. Việc triển khai thực hiện đầu tư sẽ được xem xét cụ thể sau khi quy hoạch được duyệt và tình hình triển khai của các Đơn vị ngành than).

- Sở Xây dựng đã nhận được hồ sơ trình duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch phân khu chức năng do Công ty Cổ phần Than Núi Béo đề xuất (tại Tờ trình số 3122/TTr-VNBC ngày 18/8/2013) và có Văn bản số 1798/SXD-QH ngày 26/8/2013 hướng dẫn Công ty Cổ phần Than Núi Béo hoàn thiện các nội dung nhiệm vụ quy hoạch để trình duyệt.

Đề xuất sử dụng quỹ đất các bãi thải, các khu khai trường khai thác sau khi hoàn nguyên để phát triển thành các các khu chức năng đô thị của Công ty CP Than Núi Béo là phù hợp với các định hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng của tỉnh và của thành phố Hạ Long. Trong thời gian tới, đề nghị Công ty phối hợp với UBND thành phố Hạ Long hoàn thiện nhiệm vụ quy hoạch, quy hoạch theo các ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh (tại Văn bản số 3838/UBND-QH1 ngày 08/8/2012), ý kiến hướng dẫn của Sở Xây dựng (tại Văn bản số 1798/SXD-QH ngày 26/8/2013) và các quy định để trình duyệt làm cơ sở thực hiện dự án cụ thể.

Câu hỏi số 11: Công ty Viglacera Đông Triều trong thời gian mở rộng sản xuất năm 2008 đã gặp những khó khăn do khủng hoảng kinh tế dẫn đến nợ BHXH. Từ năm 2013, công ty đã tạm thời vượt qua khó khăn, đóng BHXH cho 100% người lao động nhưng vẫn chưa giải quyết được số nợ của giai đoạn 2008-2012. Đề nghị tỉnh có cơ chế tạo điều kiện cho công ty vay với lãi suất ưu đãi để giải quyết chế độ cho người lao động.

Trả lời:

* Căn cứ vào Điều 93 Luật Bảo hiểm xã hội và Điều 44 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ “hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc, trong đó cho phép doanh nghiệp được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất khi:

a) Gặp khó khăn phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh;

b) Gặp khó khăn do thiên tai, mất mùa.

Và thỏa mãn điều kiện:

- Không bố trí được việc làm cho người lao động, trong đó số lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội phải tạm thời nghỉ việc từ 50% tổng số lao động có mặt trước khi tạm dừng sản xuất, kinh doanh trở lên;

- Bị thiệt hại trên 50% tổng giá trị tài sản do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, mất mùa gây ra (không kể giá trị tài sản là đất).

* Căn cứ công văn số 2266/BHXH-BT ngày 20/6/2013 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam "V/v giải quyết vướng mắc về thu, xác nhận sổ BHXH", căn cứ tình hình thực tế tại công ty cổ phần Viglacera Đông Triều và xét đề nghị của công ty cổ phần Viglacera Đông Triều; ngày 27/12/2013  Sở Lao động - Thương binh và Xã hội  đã có công văn số 2117/SLĐTBXH-LĐTL xác nhận để Công ty cổ phần Viglacera Đông Triều được dừng đóng BHXH theo quy định.

Câu hỏi số 12: Hiện nay TP. Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí có 71 giáo viên Mầm non đang gặp những vướng mắc trong giải quyết chế độ BHXH. Mặc dù Sở Lao động TB&XH, Sở Giáo dục và Đào tạo, BHXH tỉnh đã một số lần họp giải quyết nhưng chưa có kết quả; trong khi đa số các cô đều sắp đến tuổi nghỉ hưu. Đề nghị tỉnh có hướng chỉ đạo giải quyết dứt điểm việc này nhằm bảo đảm chế độ và ổn định tư tưởng cho người lao động.

Trả lời:

Liên quan đến nội dung đề nghị của 71 giáo viên mầm non thuộc ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố: Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả được UBND tỉnh cũng như các cơ quan liên quan quan tâm, chỉ đạo giải quyết từ năm 2000 đến năm 2011. (Trước đây tỉnh giao cho các ngành khác chủ trì).

Ngày 26/12/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bảo hiểm xã hội tỉnh và Sở Giáo dục và Đào tạo, căn cứ quy định của pháp luật, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về những điều kiện để những giáo viên mầm non đã tham gia công tác trước tháng 4/1993 được công nhận là thời gian công tác có tham gia bảo hiểm xã hội. Trên cơ sở đó đối chiếu với hồ sơ của từng giáo viên mầm non đã và đang công tác tại các địa phương: Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí có đơn đề nghị được công nhận thời gian công tác trước tháng 4/1993 là thời gian có tham gia BHXH, do Sở Giáo dục và Đào tạo đã tập hợp hồ sơ để giải quyết và trả lời đối với từng trường hợp.

Đến thời điểm hiện tại thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Lao động - TBXH đã triển khai công việc như sau:

- Công văn số 354/SLĐTBXH-LĐTL ngày 14/3/2014 đề nghị UBND thành phố Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí: Tập hợp, rà soát, phân loại hồ sơ của số giáo viên mầm non có thời gian công tác trước tháng 4/1993 nhưng chưa được xác định là thời gian công tác có tham gia BHXH, nêu quan điểm giải quyết đối với từng trường hợp;

- Ngày 10/4/2014 Sở Lao động TBXH có công văn số 537/SLĐTBXH-LĐTL trao đổi với Sở Nội vụ về hiệu lực thi hành của Quyết định số 185/TCCQ ngày 01/12/1993 của Ban Tổ chức chính quyền tỉnh. (Nhận được công văn trả lời của Sở Nội vụ vào ngày 28/04/2014);

- Tiến hành rà soát hồ sơ của từng cá nhân, đối chiếu với các quy định hiện hành và tập hợp các hồ sơ tài liệu khác liên quan;

- Dự thảo báo cáo, xin ý kiến tham gia của liên ngành (dự kiến tổ chức cuối tháng 5/2014) để thống nhất báo cáo UBND tỉnh, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

Đây là vụ việc phức tạp do hồ sơ của các giáo viên không đầy đủ, công tác quản lý hồ sơ chưa đồng bộ và chặt chẽ, trong khi các giáo viên đã khiếu nại nhiều năm. Vì vậy, cần nghiên cứu kỹ, xem xét, cân nhắc, đề xuất vận dụng cho thấu tình đạt lý và cần phải có thời gian.

Câu hỏi số 13: Hiện nay CNLĐ trong các khu công nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc gửi con trong độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, nhất là các cháu độ tuổi nhà trẻ (nhỏ hơn 24 tháng tuổi). Tỉnh đã có quan tâm để giải quyết, tuy nhiên tiến độ còn chậm. Xin đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cho b iết tỉnh sẽ có giải pháp gì để đẩy nhanh tiến độ trong thời gian tới để sớm giải quyết vấn đề khó khăn về nhà gửi trẻ trong các khu công nghiệp?

Trả lời:

Ngày 20/3/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Hỗ trợ, phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục ở khu vực khu công nghiệp, khu chế xuất” với mục tiêu: Hỗ trợ việc kiện toàn, phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục tại khu vực khu công nghiệp, khu chế xuất nhằm góp phần hỗ trợ nữ công nhân lao động có con dưới 36 tháng tuổi. Tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành liên quan triển khai thực hiện Đề án trên với một số nội dung trọng tâm là: (1) Hỗ trợ kỹ thuật để các nhóm trẻ độc lập tư thục đang hoạt động hoàn thiện hồ sơ, thủ tục cấp phép để hoạt động; hỗ trợ trang bị cơ sở vật chất cho các nhóm trẻ độc lập tư thục, bao gồm cả nhóm được kiện toàn và nhóm thành lập mới; (2) Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên, bảo mẫu tại các nhóm trẻ độc lập; hỗ trợ về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật và tạo điều kiện thuận lợi để các nhóm trẻ độc lập tư thục đạt chuẩn và bảo đảm an toàn theo quy định; (3) Vận động doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ dành quỹ phúc lợi hỗ trợ kinh phí cho phụ nữ gửi con và bảo đảm quyền lợi cho lao động nữ, hỗ trợ việc xây dựng, phát triển các cơ sở giáo dục mầm non trong khu công nghiệp và trên địa bàn; (4) Xem xét để có chính sách hỗ trợ phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi là công nhân lao động, nhất là ở các khu công nghiệp.

Trước mắt, giao Ban quản lý khu công nghiệp xem xét quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, căn cứ nhu cầu gửi trẻ của công nhân lao động để lập Đề án thành lập cơ sở giáo dục mầm non hoặc nhóm trẻ độc lập tư thục trong khu công nghiệp, trình cơ quan quản lý và chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố) thẩm định, cho phép thành lập và hoạt động theo quy định hiện hành. Trên cơ sở đó, Tỉnh sẽ xem xét từng trường hợp cụ thể (loại hình, quy mô, độ tuổi của trẻ …) để có chính sách hỗ trợ phù hợp. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố xem xét lại quy hoạch mạng lưới các trường mầm non trên địa bàn, có giải pháp để củng cố các cơ sở hiện có hoặc xây dựng cơ sở mới, đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của công nhân lao động ở khu công nghiệp hoặc doanh nghiệp tập trung đông công nhân lao động; chỉ đạo ngành giáo dục và đào tạo ở địa phương phối hợp, hướng dẫn việc lập Đề án thành lập cơ sở giáo dục mầm non trong khu công nghiệp, hỗ trợ các cơ sở này tổ chức hoạt động đúng quy định, đảm bảo chất lượng.

Câu hỏi số 14: (1) Hiện nay mức thu phí bảo vệ môi trường của khai thác đá cao hơn nhiều lần mức thu phí của khai thác than và cao hơn so với các tỉnh lân cận; (2) Mặt khác cách tính thuế tài nguyên lại trùng với cách tính thuế VAT đang áp dụng cho 1m3 đá khai thác nên giá thành sản xuất cao, khó tiêu thụ được sản phẩm nên ảnh hưởng đến SXKD của doanh nghiệp và thu  nhập của người lao động. Đề nghị Tỉnh xem xét lại mức thu phí cho hợp lý theo đặc thù của từng ngành nghề.

Trả lời:

1. Về nội dung kiến nghị (1):

Hiện nay Tỉnh Quảng Ninh thực hiện thu Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản theo Nghị quyết số 31/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 của HĐND tỉnh Quảng Ninh và Quyết định số 4051/2011/QĐ-UBND ngày 21/12/2011 của UBND tỉnh. Mức thu phí đối với các loại khoáng sản khai thác trên địa bàn tỉnh đã thực hiện được 02 năm (từ 01/01/2012), đều được áp dụng thu bằng mức tối đa Chính phủ quy định tại Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011.

Thực tế hoạt động khai thác các loại khoáng sản trên địa bàn tỉnh gây ô nhiễm môi trường, tác động xấu đến đời sống dân cư địa phương. Trong khi đó nguồn thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản của tỉnh Quảng Ninh chỉ đáp ứng được một phần kinh phí để khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường trên địa bàn, vì vậy thực trạng môi trường trên địa bàn vẫn còn nhiều bức xúc, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển xanh của Tỉnh. Chính vì vậy, UBND tỉnh Quảng Ninh đã có văn bản đề nghị Bộ Tài chính trình Chính phủ điều chỉnh tăng mức thu tối đa đối với phí bảo vệ môi trường từ hoạt động khai thác than.

Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản (trong đó có sản phẩm đá) như hiện nay là đúng theo quy định của pháp luật và phù hợp với chủ trương, quan điểm của Tỉnh Quảng Ninh về chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”.

2. Về nội dung kiến nghị (2).

- Theo quy định về thuế Tài nguyên: Thuế tài nguyên là loại thuế thu vào các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Đối tượng chịu thuế là các loại khoáng sản kim loại, khoáng sản không kim loại, một số tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

- Theo quy định Thuế Giá trị gia tăng: Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

Đối tượng chịu thuế là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam.

Vì vậy việc tính thu thuế Tài nguyên và thuế Giá trị gia tăng là không trùng nhau.

Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Khi xây dựng phương án giá tính thuế tài nguyên tối thiểu trên địa bàn tỉnh, Liên ngành đã thực hiện phương án giá tính thuế là giá bán tài nguyên không bao gồm thuế Giá trị gia tăng.

Câu hỏi số 15: “Hiện nay nhiều công trình đầu tư công được đơn vị thi công bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa được Chủ đầu tư là các cơ quan quản lý nhà nước của tỉnh thanh toán hoặc nợ dài ngày, số tiền nợ đó doanh nghiệp không được tính lãi. Trong khi vốn vay của doanh nghiệp để thi công các công trình vẫn phải chịu lãi với ngân hàng, gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp. Đề nghị Tỉnh ủy quan tâm giải quyết vấn đề trên giúp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp”.

Trả lời:

Trong các năm qua, nguồn vốn đầu tư XDCB của tỉnh đã có đóng góp rất lớn vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhiều lĩnh vực đã được quan tâm đầu tư, một số công trình quan trọng đã hoàn thành đưa vào sử dụng như: Dự án đưa điện lưới ra huyện đảo Cô Tô; Bảo tàng – thư viện; Đường tỉnh lộ 340; Đường bao biển Lán Bè - Cột Đồng Hồ nối với đường bao biển núi Bài Thơ và mặt bằng công viên văn hoá Hạ Long; Tuyến đường ô tô bao núi Bài Thơ phía biển thành phố Hạ Long; Trường THPT chuyên Hạ Long (giai đoạn 2). Bên cạnh đó, nhằm đẩy nhanh tiến độ một số dự án giao thông quan trọng của trung ương triển khai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, tỉnh đã ứng 1.420 tỷ đồng ngân sách tỉnh cho các dự án này, hiện 01 dự án đã hoàn thành (Đường 18C Tiên Yên – Hoành Mô) và 01 dự án Đường 18A đoạn Uông Bí – Hạ Long. Bên cạnh các công trình của tỉnh, các địa phương cũng rất tích cực triển khai nhằm thực hiện các mục tiêu mà địa phương và của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh đề ra. Nhu cầu vốn đầu tư luôn ở mức rất cao.

Thực hiện Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương, tỉnh Quảng Ninh đã có những chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản qua nhiều năm như: Tập trung bố trí vốn cho các dự án đã hoàn thành và đã bàn giao, đưa vào sử dụng nhưng chưa bố trí đủ vốn, sau đó bố trí cho các công trình dự kiến hoàn thành năm kế hoạch, chuyển tiếp, Hạn chế tối đa dự án mới. Dự án khởi công mới phải là dự án thực sự cấp bách hoặc là dự án động lực tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính Phủ. Một số chỉ đạo trong việc khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản như:

- Thông báo số 1171-TB/TU ngày 7/11/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Kết luận số 10-NQ/TU ngày 5/12/2013 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh: Rà soát kỹ các dự án chuyển tiếp về phạm vi, quy mô, hiệu quả đầu tư cho phù hợp với mục tiêu, khả năng cân đối vốn của tỉnh và địa phương giai đoạn 2013-2015 để kiên quyết cắt bỏ những dự án, công trình không cần thiết, chưa thật sự cấp bách để tập trung vốn đẩy nhanh tiến độ hoàn thành dứt điểm, đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả các công trình động lực, nhất là về giao thông, thủy lợi, hạ tầng cửa khẩu, cảng khẩu…cương quyết chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả. Xem xét trả nợ XDCB đối với những dự án, công trình đã hoàn thành, có hiệu quả rõ rệt và có quyết toán hoặc phê duyệt quyết toán theo lộ trình từ năm 2014 đến hết năm 2015. Chưa xem xét trả nợ đối với những công trình có biểu hiện tiêu cực, lãng phí, thất thoát hoặc đang bị thanh tra, kiểm tra, giám sát… Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về những  giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương theo tinh thần: “Từng địa phương phải kiểm điểm, xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan (gắn với trách nhiệm cá nhân) trong việc để phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản trong thời gian qua. Đồng thời, phải tự cân đối các nguồn vốn để xử lý dứt điểm tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản.

- Yêu cầu tiến hành rà soát lại các nhiệm vụ chi bố trí trong dự toán, các dự án xây dựng cơ bản; trên cơ sở kết quả rà soát, đề xuất điều chỉnh quy mô, đình hoãn, giãn, giảm; rà soát nợ đọng XDCB đối với các dự án, tập trung vốn cho các công trình có khả năng hoàn thành; các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ quyết toán vốn đầu tư và thực hiện nghiêm chế độ báo cáo quyết toán các dự án hoàn thành; đảm bảo không để xảy ra tình trạng chậm trễ trong công tác quyết toán. Yêu cầu các sở, ngành và địa phương tạm dừng việc khởi công mới các công trình, dự án XDCB, trừ các dự án cấp bách; Tiết kiệm chi thường xuyên để tăng chi đầu tư xây dựng cơ bản, dành nguồn lực cho các công trình động lực cũng như đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình này để đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả đầu tư; Để có nguồn lực tập trung cho các công trình hoàn thành, chuyển tiếp và các công trình mới thực sự cấp bách, trong năm 2012, 2013 tỉnh đã có nhiều cuộc rà soát để đình hoãn, giãn tiến độ các công trình chưa cấp thiết, chưa hiệu quả. Năm 2013, tỉnh đã dành 1.353,424 tỷ đồng để bố trí cho các công trình đã hoàn thành và dự kiến hoàn thành trong năm.

- Kế hoạch đầu năm 2014 tỉnh đã dành 1.222,095 tỷ đồng để bố trí thanh toán cho các công trình hoàn thành và dự kiến hoàn thành trong năm 2014 và trong năm, tỉnh sẽ tiếp tục sử dụng nguồn vốn trung ương hoàn trả cho tỉnh để thanh toán nợ đọng đối với các công trình sau khi phân cấp tỉnh chuyển về cho các huyện, thị xã, thành phố. Các chủ đầu tư cần tập trung hoàn thành công tác quyết toán đầu tư của các dự án đã hoàn thành, để xác định chính xác số nợ để làm cơ sở thanh toán.

Nguồn: Báo Quảng Ninh

Các tin khác đã đăng