Thực trạng đối thoại xă hội tại doanh nghiệp
02/07/2015

Đối thoại xă hội có lịch sử h́nh thành và phát triển khá lâu đời ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước công nghiệp phát triển. C̣n ở Việt Nam, Chính phủ quy định:Đối thoại tại nơi làm việc là việc trao đổi trực tiếp giữa người sử dụng lao động với người lao động hoặc đại diện tập thể lao động với người sử dụng lao động nhằm chia sẻ thông tin, tăng cường sự hiểu biết giữa người sử dụng lao động và người lao động để bảo đảm việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.[1]. Như vậy, đối thoại tại nơi làm việc theo quy định bao gồm, địa điểm diễn ra đối thoại, đối tượng tham gia đối thoại cũng như mục tiêu đối thoại cần đạt được, đó chính là thực hiện đầy đủ, nghiêm túc quy chế dân chủ tại nơi làm việc.

Thực tế cho thấy, đối với quan hệ lao động ở những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc đối thoại không chỉ diễn ra trong môi trường của doanh nghiệp mà c̣n  phát triển ở cả cấp ngành, cấp địa phương và cấp quốc gia. Chính v́ vậy số lượng các cuộc đối thoại không ngừng tăng cả về chiều rộng và chiều sâu. Năm 2014, triển khai Nghị định 60/2013/NĐ-CP về thực hiện qui chế dân chủ tại nơi làm việc, các cấp công đoàn đă chủ động tham gia có hiệu quả xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ, tổ chức Hội nghị người lao động và đối thoại tại doanh nghiệp. Hơn 23.000 đơn vị, doanh nghiệp xây dựng được quy chế dân chủ mới, sửa đổi, bổ sung trên 24.000 quy chế hiện hành, hơn 9.000 cuộc đối thoại định kỳ và hơn 400 cuộc đối thoại đột xuất được tổ chức. Thông qua các cuộc đối thoại, những vướng mắc, khó khăn, bức xúc của doanh nghiệp và người lao động đă được tập trung giải quyết[2].

Theo khảo sát của Tổng Liên đoàn năm 2014, có tới 78.6% công nhân trả lời cho biết trong các công ty TNHH có tiến hành các cuộc đối thoại, trong khi đó tại các doanh nghiệp FDI, có tới 81.4% số ư kiến được hỏi khẳng định doanh nghiệp của ḿnh có tiến hành đối thoại. Như vậy không chỉ người sử dụng lao động mà ngay bản thân những người lao động cũng nhận thức được tầm quan trọng của việc đối thoại tại doanh nghiệp. Hoạt động đối thoại đă được các bên trong quan hệ lao động quan tâm thường xuyên, mặc dù loại h́nh doanh nghiệp không giống nhau. Như vậy, rơ ràng đối thoại trong doanh nghiệp có vai tṛ rất quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ của các bên khi cùng giải quyết những vấn đề có liên quan tới quyền, lợi hợp pháp chính đáng, cũng như liên quan tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Theo Nghị định 60/2013/NĐ-CP, khoảng cách giữa hai lần đối thoại định kỳ liền kề tối đa không quá 90 ngày, nhưng trong thực tế, nhiều doanh nghiệp đă thực hiện khá thường xuyên và tự nguyện h́nh thức đối thoại tại nơi làm việc. Lư do v́ trước đây khi chưa có qui định mang tính bắt buộc của pháp luật mà người sử dụng lao động và người lao động vẫn nhận thấy được lợi ích thiết thực từ những cuộc đối thoại đó và đă tự nguyện thực hiện nó. Qua đối thoại tại nơi làm việc, người lao động và người sử dụng lao động gần gũi, thân thiện, hiểu biết và tin tưởng nhau hơn. Hiểu được những tâm tư, nguyện vọng của người lao động, người sử dụng lao động t́m hướng giải quyết một cách thoả đáng, kịp thời sửa chữa những thiếu sót có thể mắc phải trong khâu điều hành, quản lư doanh nghiệp, đáp ứng những đ̣i hỏi chính đáng của người lao động. Người sử dụng lao động truyền đạt đến người lao động những thông tin đầy đủ, giúp họ hiểu thêm về t́nh h́nh sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, về khả năng tiêu thụ sản phẩm làm ra, về tiền lương, cách tính thưởng… Và một khi người lao động thoả măn những thông tin mà họ cần biết, họ sẽ an tâm, tự giác lao động, tích cực đầu tư công sức, để không ngừng cải tiến sản xuất, nâng cao năng suất lao động để có thêm doanh thu tạo thêm thu nhập cho bản thân.

Có nhiều h́nh thức đối thoại tại nơi làm việc. Có nơi Giám đốc gặp gỡ công nhân lao động tại nhà máy khoảng 30 phút vào ngày đầu tháng để trao đổi thông tin, giải quyết những yêu cầu từ phía tập thể lao động, hoặc Giám đốc có những yêu cầu về công việc mà người lao động có trách nhiệm phải làm. Giám đốc cho phép người lao động nhắn tin qua điện thoại di động về những vấn đề mà cả người sử dụng lao động và người lao động quan tâm để giải quyết kịp thời. Có nơi, Giám đốc doanh nghiệp dành một tiếng vào buổi cuối tuần, gặp công nhân lao động, cùng họ trao đổi thông tin…Những cuộc tiếp xúc như vậy rất có lợi trong điều hành, quản lư doanh nghiệp; người lao động thấy phấn khởi v́ mọi vướng mắc đă được người có trách nhiệm hiểu và giải quyết thấu t́nh, đạt lư. Những bức xúc trong công việc được giải quyết tích cực, năng suất chắc chắn sẽ tăng.

Để tổ chức các cuộc đối thoại tại doanh nghiệp thành công, theo chúng tôi Công đoàn cơ sở và doanh nghiệp thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao kỹ năng đàm phán, thương lượng: Đ̣i hỏi các thành viên trước khi vào cuộc đàm phán phải nghiên cứu kỹ, hiểu cặn kẽ tinh thần của nội dung đối thoại và các chế độ, chính sách có liên quan; Nâng cao khả năng hùng biện thông qua cách nói, cách diễn đạt, tŕnh bày các nội dung cũng như khi thực hiện phản biện; Đại diện của mỗi bên cần lắng nghe, tiếp nhận đầy đủ các thông tin khi trao đổi trong đối thoại; cân nhắc, xem xét các bằng chứng, các lư lẽ đưa ra có phù hợp với các văn bản quy định hay không, có phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp hay không và đặc biệt là có tính khả thi hay không? Nếu lắng nghe và tiếp nhận đầy đủ các thông tin từ phía đối phương tŕnh bày sẽ là cơ hội tốt để cùng nhau thống nhất t́m ra các biện pháp, cách thức giải quyết vấn đề đặt ra trong đối thoại.

Thứ hai, kỹ năng tổ chức cuộc đối thoại: Nắm vững quy chế đối thoại, nội dung của cuộc đối thoại cũng như các nguyên tắc phải tuân thủ khi thực hiện đối thoại; Nắm vững quy định về tổ chức một cuộc đối thoại định kỳ, đối thoại khi có một bên yêu cầu, đó là: quyết định tổ chức cuộc đối thoại, địa điểm tổ chức đối thoại, thời gian tiến hành đối thoại cũng như các điều kiện vật chất cần thiết khác bảo đảm cho đối thoại. Như vậy, một cuộc đối thoại được tổ chức khi và chỉ khi có Quyết định đối thoại do người sử dụng ban hành: Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày hai bên thống nhất nội dung, thời gian, địa điểm, thành phần tham gia đối thoại định kỳ tại nơi làm việc, người sử dụng lao động ra quyết định bằng văn bản tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc. Quyết định tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc phải được gửi đến Chủ tịch công đoàn cơ sở hoặc đại diện Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở và các thành viên tham gia đối thoại ít nhất 05 ngày làm việc trước ngày tổ chức đối thoại.

Thứ ba, cách thức phối hợp điều hành cuộc đối thoại: Mỗi cuộc đối thoại được tổ chức đă có sự chuẩn bị đầy đủ các điều kiện theo quy định như nội dung đối thoại, địa điểm đối thoại, thời gian tổ chức đối thoại, thành phần của các bên tham gia.... do đó, cần phải có sự phối hợp điều hành của các bên trong cuộc đối thoại. Theo quy định, tổ chức đại diện cho tập thể lao động có trách nhiệm phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức thực hiện đối thoại định kỳ tại nơi làm việc. Công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp hoặc công đoàn cấp trên cơ sở(nơi chưa thành lập công đoàn) sẽ phối hợp với người sử dụng lao động để cử ra thư kư  ghi chép diễn tiến cuộc đối thoại, thống nhất cùng nhau bên nào tŕnh bày trước, bên nào tŕnh bày sau, cùng nhau trao đổi thông tin có liên quan tới nội dung cuộc đối thoại.

Thứ tư, nâng cao kỹ năng tập hợp thu thập thông tin: Khi nhận được thông tin, cần phải: Xác định được những thông tin nào liên quan và hỗ trợ cho việc đối thoại; Kiểm tra kỹ nguồn thông tin, đảm bảo về độ chính xác và có căn cứ cần thiết của những thông tin thu thập được; Lựa chọn các thông tin, số liệu có sức thuyết phục để sử dụng, loại trừ những thông tin số liệu có khả năng làm sai lệch hoặc không có tính thuyết phục khi đàm phán, thương lượng trong đối thoại; Từ những thông tin thu thập được và đă có sự chọn lọc, công đoàn tập hợp, xây dựng nội dung đối thoại, sau đó Chủ tịch công đoàn cơ sở gửi nội dung đối thoại cho người sử dụng lao động và thông báo cho người lao động biết.

 



[1] Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 06 năm 2013

[2] Báo cáo Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam lần thứ 5 (khoá XI)

Theo Tổng Liên đoàn

Các tin khác đã đăng