Thẩm quyền giải thể công ty và giải quyết các chế độ cho người lao động.
28/04/2017

Bạn Cao Thị H có địa chỉ hòm thư caothih…@mail.com có hỏi. Công ty tôi thuộc loại hình Công ty TNHH vốn nước ngoài, vừa qua có thông báo về việc xin chấm dứt hoạt động đầu tư trước thời hạn và giải thể doanh nghiệp với lý do kinh doanh không hiệu quả, đơn đặt hàng không đủ để duy trì hoạt động cũng như thanh toán các khoản mà công ty đã nợ trong 2 năm vừa qua. (Thông báo trên do ông Phó tổng giám đốc công ty ký; ông Tổng giám đốc là chủ sở hữu của công ty đi công tác nước ngoài chưa có ủy quyền), đồng thời công ty chấm dứt hợp đồng lao động với tất cả người lao động.

Xin hỏi Trung tâm Tư vấn pháp luật và Huấn luyện an toàn lao động Công đoàn Quảng Ninh một số vấn đề như sau:

1, Thông báo trên có đủ căn cứ pháp luật để tiến hành giải thể công ty hay không?

2, Trong trường hợp giải thể công ty, thì các vấn đề về tiền lương, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, BHXH của người lao động được giải quyết ưu tiên như thế nào? Người lao động được hưởng trợ cấp thôi việc hay trợ cấp mất việc làm. Cách tính như thế nào?

Hiện tại, người lao động rất hoang mang về chế độ của mình khi công ty giải thể. Đề nghị Trung tâm tư vấn giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn!

Trung tâm Tư vấn pháp luật và Huấn luyện an toàn lao động Công đoàn Quảng Ninh trả lời như sau:

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Trung tâm Tư vấn pháp luật và Huấn luyện an toàn lao động Công đoàn Quảng Ninh. Về vấn đề bạn quan tâm, Trung tâm xin trả lời bạn như sau:

          Thứ nhất, Căn cứ Khoản 1, Điều 201, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về Doanh nghiệp bị giải thể trong các trường hợp sau đây:

a) Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn;

b) Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần;

c) Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;

d) Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Như vậy, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn chưa có ủy quyền thì việc Phó tổng giám đốc công ty (không phải là người đại diện theo pháp luật) ra Thông báo (không phải là Quyết định) giải thể doanh nghiệp là trái pháp luật, gây hoang mang và bất ổn đến đời sống việc làm của người lao động.

Thứ hai, Tại Khoản 5, Điều 202, Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định về trường hợp doanh nghiệp giải thể, thì các khoản nợ của doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự sau đây:

a) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

b) Nợ thuế;

c) Các khoản nợ khác.

            Trong trường hợp công ty bạn bị giải thể theo quyết định của chủ sở hữu công ty, thì khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết sẽ được ưu tiên số 1 giải quyết trước khi thanh toán các khoản nợ thuế cũng như các khoản nợ khác.

Căn cứ Khoản 7, Điều 36, Bộ luật Lao động năm 2012 quy định các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động: Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

            Tại Khoản 1, Điều 38, Bộ luật Lao động năm 2012 quy định trường hợp người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Trân trọng!

Trung tâm Tư vấn pháp luật và Huấn luyện an toàn lao động
Công đoàn Quảng Ninh – Điện thoại 0333.829961

 

Đỗ Văn Khánh

Các tin khác đã đăng