Từ 01/01/2018: Nhiều thay đổi mới khi thực hiện Luật bảo hiểm xã hội 2014
27/11/2017

1. Bổ sung thêm 02 đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội:

- Người lao động là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng phải tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc; (hiện nay, đối tượng này không phải tham gia đóng BHXH bắt buộc)

- Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ.

2. Đóng BHXH trên tiền lương thực tế, tiến gần đến thu nhập thực tế.

Luật BHXH 2014 quy định, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc đối với đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định từ ngày 01/01/2018 vẫn là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm (hệ số) và các khoản phụ cấp chức vụ (hệ số), phụ cấp thâm niên vượt khung (%), phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) (%) trên cơ sở mức lương cơ sở do Nhà nước quy định từng thời kỳ.

Đối với đối tượng đóng BHXH bắt buộc theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì từ 01/01/2018, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Trong đó, mức lương làm căn cứ đóng BHXH theo thang lương, bảng lương do doanh nghiệp tự xây dựng. Phụ cấp lương là khoản tiền bù đắp các yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt… như: Phụ cấp chức vụ, chức danh; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thâm niên... Các khoản bổ sung khác là khoản tiền ngoài mức lương, phụ cấp lương và có liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động. Song, tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc sẽ không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác. Cụ thể, là 14 khoản thu nhập không tính đóng BHXH từ tháng 01/2018, bao gồm: (1) Tiền thưởng theo quy định tại điều 103 của Bộ luật Lao động 2012; (2) Tiền thưởng sáng kiến; (3) Tiền ăn giữa ca; (4) Tiền hỗ trợ xăng xe; (5) Tiền hỗ trợ điện thoại; (6) Tiền hỗ trợ đi lại; (7) Tiền hỗ trợ giữ trẻ; (8) Tiền hỗ trợ nhà ở; (9) Tiền hỗ trợ nuôi con nhỏ; (10) Tiền hỗ trợ người lao động có thân nhân bị chết; (11) Tiền hộ trợ người lao động có người thân kết hôn; (12) Tiền hỗ trợ khi sinh nhật của người lao động; (13) Tiền trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; (14) Các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác đã được ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo Khoản 11 Điều 4, Nghị định 05/2015/NĐ-CP.

Lưu ý: Chỉ những khoản phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được trả cố định theo kỳ lương mới tính vào thu nhập để tính mức đóng BHXH. Các khoản phụ cấp, các khoản bổ sung khác mà không xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động, phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kết quả thực hiện công việc của người lao động thì không tính làm căn cứ đóng BHXH.

Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc thấp nhất bằng mức lương tối thiểu vùng; cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở theo quy định của Chính phủ. Tiền lương tháng đóng BHXH đối với người làm công việc hoặc chức danh giản đơn trong điều kiện lao động bình thường không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng; công việc hoặc chức danh đòi hỏi lao động qua đào tạo, học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề) phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng. Đồng thời, công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 5%; công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương, làm việc trong điều kiện lao động bình thường.

Đây là nội dung đáng chú ý được quy định tại Khoản 2, Điều 30 của Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH 2014 về BHXH bắt buộc. Còn các khoản bổ sung khác được quy định tại Điểm a, b, Khoản 3, Điều 4 của Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều về hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định 05/2015/NĐ-CP.

Việc đóng BHXH trên tiền lương thực tế tiến gần đến thu nhập thực tế là để đảm bảo quyền lợi cho người lao động, khi nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản, nghỉ hưu…, mức hưởng sẽ cao hơn.

3. Tỷ lệ hưởng lương hưu sẽ thấp khi nghỉ hưu sớm

Cũng từ 01/01/2018, theo quy định tại Luật BHXH 2014, sẽ bắt đầu áp dụng lộ trình thay đổi cách tính tỷ lệ % hưởng lương hưu có thay đổi so với nghỉ hưu trước năm 2018, có tác động trực tiếp đến một số nhóm đối tượng mà không ảnh hưởng tới tất cả các đối tượng hưởng lương hưu từ năm 2018. Cụ thể:

Lao động nam được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng hoặc thu nhập tháng đóng BHXH khi có thời gian đóng BHXH: đủ 16 năm và nghỉ hưu năm 2018, đủ 17 năm và nghỉ hưu năm 2019, đủ 18 năm và nghỉ hưu năm 2020, đủ 19 năm và nghỉ hưu năm 2021, đủ 20 năm và nghỉ hưu từ năm 2022 trở đi.

Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi thì 15 năm đóng BHXH được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH (nội dung này thay đổi đối với lao động nam vì trước năm 2018 lao động nam chỉ cần đủ 15 năm đóng BHXH đã được tính bằng 45%). Sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng BHXH, người lao động (cả nam và nữ) được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75% (nội dung này chỉ thay đổi đối với lao động nữ, vì trước năm 2018 cứ mỗi năm đóng BHXH tăng thêm sau khi đạt tỷ lệ 45% lao động nữ được tính thêm 3%).

Như vậy, lao động nữ đủ 55 tuổi, nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi phải có đủ 30 năm đóng BHXH mới được hưởng tối đa 75% (so với trước năm 2018 chỉ cần có đủ 25 năm đóng BHXH); lao động nam nghỉ hưu năm 2018 thì phải có đủ 31 năm đóng BHXH, nghỉ năm 2019 phải có đủ 32 năm, nghỉ năm 2020 phải có đủ 33 năm, nghỉ năm 2021 phải đủ 34 năm và nghỉ từ năm 2022 trở đi phải đủ 35 năm đóng BHXH mới đạt tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa là 75% (so với trước năm 2018 thì chỉ cần có đủ 30 năm đóng BHXH là được hưởng tỷ lệ tối đa 75%).

(Trường hợp nếu nghỉ hưu mà chưa đủ tuổi đời theo quy định thì còn phải giảm trừ tỷ lệ % do nghỉ hưu trước tuổi (mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi trừ 2%). Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 06 tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ hưu trước tuổi).

Mức hưởng lương hưu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Tuổi đời, thời gian đóng BHXH, mức lương đóng BHXH, điều kiện làm việc… tỷ lệ hưởng lương hưu sẽ thấp khi nghỉ hưu sớm và càng thấp hơn nếu thời gian đóng BHXH không nhiều. Vì vậy khi người lao động còn trẻ, khỏe, có công việc đảm bảo thì nên tiếp tục đóng BHXH cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu để được nhận mức lương hưu tốt nhất giúp đảm bảo tốt hơn cuộc sống của mình khi về hưu./.

Ban Chính sách pháp luật - LĐLĐ tỉnh